(4). Massive MIMO Multi-Layer Multiplexing

Trong mô hình SU-MIMO, trạm phát (gNodeB) chỉ truyền truyền dữ liệu cho một người dùng duy nhất trên cùng một khối tài nguyên thời gian – tần số (Time-Frequency Resource), do giới hạn số anten của UE

⇒số lượng lớp truyền dữ liệu song song (spatial multiplexing layers – lớp phân chia theo không gian) bị nghẽn cổ chai bởi chính số lượng anten của UE đó. Hệ thống không khai thác hết tiềm năng của Massive MIMO

MU-MIMO giải quyết bài toán này bằng cách ghép cặp nhiều người dùng (UEs to be paired) có vị trí không gian tách biệt nhau. Nó cho phép gNodeB truyền dữ liệu đồng thời cho nhiều UE trên cùng một tài nguyên thời giantần số. Lúc này, tổng số lớp multiplexing (băng thông tổng) không còn bị giới hạn bởi một UE đơn lẻ nữa mà bằng tổng số lớp của các UE được ghép cặp lại

Miền thời gian: TTI, miền tần số: PRB, miền không gian: Layer

1. SU MIMO (Single User MIMO):
Nguyên lý: Truyền nhiều lớp dữ liệu (Layer) cho một người dùng (UE).
Giới hạn: Số lượng lớp dữ liệu bị giới hạn bởi số lượng ăng-ten thu phát cao nhất của gNodeB và UE (thường là 4).
Ứng dụng: Khuyến nghị dùng cho mọi kịch bản để tối đa hóa tốc độ đỉnh (peak rate) cho UE.
Hình ảnh minh họa: Cho thấy một trạm gốc (64TRX) tập trung tín hiệu (beam) vào một UE duy nhất, có thể truyền đồng thời 4 lớp dữ liệu (“Downlink 4R”).
2. MU MIMO (Multi User MIMO):
Nguyên lý: Cho phép nhiều UE cùng chia sẻ tài nguyên (ghép cặp) trong cùng một khoảng thời gian-tần số (PRB) thông qua việc truyền đa lớp (multi-layer). Điều này giúp nâng cao dung lượng của cell. Hiện tại, có thể hỗ trợ tối đa 16 lớp dữ liệu.
Ứng dụng: Dùng cho các cell có Tỷ lệ tài nguyên trên băng thông (PRB – Physical Resource Block) cao, từ 60% trở lên.
Hình ảnh minh họa: Cho thấy một trạm gốc phát đồng thời nhiều luồng tín hiệu (mỗi luồng một màu) tới nhiều UE khác nhau.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang